Japanese and Friends Japanese and Friends
Japanese and Friends

ベトナムの国民性

Thứ hai - 05/11/2018 04:02
Dân tộc tính của người Việt Nam(Mọi người có thể bổ sung ý kiến cho bài dịch hoàn chỉnh hơn bằng comment)
ベトナムの国民性

ベトナム人は親日的であるとか、日本と同じ仏教文化なので日本人と感覚的に似ている、また勤勉で器用など、いろんな角度からベトナム人を理解しようとします。一般的にポジティブな評価が多く、少なくともいわゆる反日国家で事業を行うよりは遥かに事業リスクは少ないということで、ベトナムへの投資意欲は以前と比較しても高まっていると言えます。しかし、やはり日本人とベトナム人は違います。その異文化に対する敬意と理解、また問題点の認識を踏まえた経営を行うかどうかは極めて重要です。なかなか公開されている資料だけではわかり得ない部分について、特にベトナム人の国民性について5つの「K」から述べてみたいと思います。ただ、これはベトナム人の国民性を批判しているのではなく、その特徴を理解したうえで、良いところを生かすという視点を持って分析しました。
Nghe nói người Việt Nam gần gũi với Nhật, vì có văn hóa Phật giáo giống với Nhật Bản nên cảm giác quan giống với người Nhật, ngoài ra họ còn cần mẫn siêng năng và khéo léo, vậy hãy cùng lý giải về người Việt Nam dưới nhiều góc độ.
Có thể nói rằng việc mong muốn đầu tư vào Việt Nam đang tăng cao so với trước đây bởi ít rủi ro so với việc đầu tư kinh doanh ở quốc gia chống nhật (Có lẽ ám chỉ Trung Quốc).
Tuy nhiên, quả nhiên người Nhật và người Việt là khác nhau. Việc lý giải sự khác nhau về văn hóa, tìm hiểu xem có nên tiếnhành kinh doanh sau khi đã nhận thức được các vấn đề đang tồn tại là điều quan trọng.
Với những tài liệu đang được công khai thì vẫn có những phần chúng ta chưa hiểu được, vì vậy tôi muốn bày tỏ về đặc tính dân tộc của người việt với [5K].
Tất nhiên đây không phải là phê phán dân tộc tính của người Việt, mà tôi phân tích trên quan điểm để phát huy được những điểm mạnh của họ sau khi đã lý giải các trưng dân tộc tính đó.


個人主義の「K」-Chữ K thứ nhất: Chủ nghĩa cá nhân [Kojinshugi]

これは中国の文化とも相通じるところがあるのですが、個人や家族の価値観を最も大事にします。個人や家族の利益が最優先という考え方をします。そのため、集団利益や社会の目を意識する滅私奉公の感覚を持った日本人とは大きなパーセプションギャップがあります。つまり会社のために個人の生活を犠牲にすることはほとんどないと言っても良いと思います。そのため会社への帰属意識は薄く、仕事についても情報共有意識が希薄なため、一般的にチームワークが苦手で、退職時も引き継ぎが不十分となる傾向には留意が必要です。また、会社の仕事より個人の冠婚葬祭を優先しがちですが、それを全て否定して会社の利益を優先するという経営姿勢一辺倒では行き詰ります。個人主義は決して利己主義ではありません。個人や家族を大事にする文化や考え方を受け入れることで、会社そのものを家族的集団として組織文化を作り上げていくことにより、強固な会社組織にできることもあるのです。
Cái này có điểm tương đồng (tương thông) với văn hóa Trung Quốc nhưng ở đây giá trị quan về cá nhân, gia đình là rất quan trọng. Cách suy nghĩ của họ chính là ưu tiên cao nhất cho lợi ích của gia đình và cá nhân.
Có sự khác nhau về nhận thức với người Nhật hiến dâng bản thân cho công ty và lợi ích tập đoàn. Có thể nói rằng, người Việt Nam hầu như không có chuyện vì công ty mà hi sinh đời sống cá nhân của mình. (Chú  thích: Kiểu như sẵn sàng đi làm vào ngày nghỉ để hoàn thành công việc, hoặc bỏ đám cưới, ma chay để ở lại công ty hoàn thành công việc). Ý thức vì công ty là thấp, ngay nói tới công việc thì ý thức chia sẻ thông tin cũng rất thấp, cho nên thông thường làm việc theo nhóm với họ là khó khăn. Cũng cần lưu ý, ngay cả khi họ nghỉ việc thì thông tin bàn giao lại cũng không đầy đủ. Họ sẽ ưu tiên những việc cá nhân như ma chay cưới hỏi hơn việc công ty nhưng phủ định tất cả những điều đó (không chấp nhận điều đó) thì sẽ không thể đi tới nơi tìm thấy lợi ích kinh doanh cho công ty. Đây là chủ nghĩa cá nhân nhưng không phải là ích kỷ cá nhân (chỉ nghĩ tới lợi ích bản thân mà làm việc có lợi cho mình). Bằng cách chấp nhận cách nghĩ hay văn hóa rằng cá nhân và gia đình là quan trọng, chúng ta có thể tạo nên cơ cấu tổ chức trong công ty có kết nối tới gia đình làm lợi cho công ty. (Chú thíchh: Ví dụ tạo nên hoạt động cho người nhà có thể tới tham quan công ty, nơi làm việc của nhân viên; cho các gia đình nhân viên giao lưu với nhau-hoạt động do công ty tổ chức).


器用の「K」-Chữ K thứ hai: Khéo léo [Kiyou]

ベトナム人は手先が器用でハンドメイドの手工芸品の生産に秀でていることは多くの方がご存知です。またその器用さや我慢強さの特徴を生かし、縫製業など人手のかかる産業においては、単に人件費で有利ということだけではなく、手作業の品質の高さという面から、ベトナムの産業競争力は高いものがあります。特に、今後TPPの発効を睨み、多くのアパレル関連の外資系メーカーが、製糸、生地工程の製造会社投資が増加しており、強みのある縫製までの一貫生産をTPP内で完結させることにより、欧米市場で圧倒的な競争力を発揮できる可能性が高まっています。
Chúng ta biết về đôi tay khéo léo của người Việt Nam bởi họ có rất nhiều đồ thủ công mỹ nghệ đẹp được làm bằng tay. Hơn nữa , phát huy sự khéo léo và kiên nhẫn này, đối với ngành may mặc hay những ngành sản xuất cần tới đôi tay của con người, không chỉ là lợi điểm giá nhân công, mà từ việc có được chất lượng sản phẩm tốt từ đôi bàn tay khéo léo ấy, năng lực cạnh tranh sản xuất của Việt Nam sẽ cao. Đặc biệt, có thể nhìn vào viễn cảnh sau khi gia nhập TPP, những ngành sản xuất liên quan tới vải vóc, nhà máy gia công quần áo may sẵn sẽ được gia tăng đầu tư, năng lực cạnh tranh áp đảo thị trường Âu Mỹ là rất cao.

勤勉・向学心の「K」-Chữ K thứ ba: Cần mẫn siêng năng [Kinben]

ベトナム人は学ぶということに非常に積極的です。日本人は社内研修に行ってこいと言われると、忙しいので正直行きたくないという社員が増えていますが、ベトナム人社員は、少しでも勉強してより高い能力を獲得し、より高度な仕事に挑戦したいという思いを持っている人が多く、研修会となると喜んで自ら手を挙げて真剣に参加します。また社内に仕事に関連する研修の機会がないとすると、自分で外部機関による研修プログラムを探してきて参加させてほしいと言ってきます。会社負担で研修に行かせてもらうことは非常にモチベーションが上がります。極め付けが日本研修です。憧れの日本に旅行ができて勉強できる日本研修のチャンスがあるがゆえに、日本企業に就職したいという人が多いのも実態です。
また、会社負担の研修でなくても、勤務終了後に夜学に通い、自ら資格取得を目指したり能力開発に努力する社員も多く見られます。これは将来転職でさらに好待遇の会社への転身を狙っているということでもあるのですが、会社にとっては痛しかゆしのところがあるものの、あえて転職リスクを承知で社員の能力開発には積極的に支援することが必要でしょう。
Người Việt Nam rất tích cực học tập. Nếu nói về đào tạo huấn luyện trong công ty, số nhân viên vì lý do bận mà không muốn tham gia đang gia tăng nhưng với nhân  viên người Việt Nam dù một chút cũng học, họ tham gia một cách nghiêm chỉnh, giành lấy năng lực cao, nắm bắt tốt công việc.tích cực trong tham gia đào tạo huấn luyện. Hơn nữa, trong công ty nếu không có khóa đào tạo huấn luyện liên quan tới công việc, họ tự tìm kiếm bên ngoài và tham gia các khóa đào tạo. Họ có động lực học tập để làm được công việc công ty. Đặc biệt là các khóa đào tạo tại Nhật Bản. Những người muốn làm cho công ty Nhật là nhiều, họ có thể hiện thực hóa ước mơ đi du lịch nhật bản, hay tham gia khóa học tại nhật bản.Ngoài ra, dù không phải là học tập để gánh vác công việc công ty, sau khi kết thúc công việc, thông qua học buổi tối,  nhiều nhân viên sẽ phát triển năng lực nhằm giành cho được tư cách (Chứng chỉ). Đây chính là sự chuẩn bị nếu có chuyển việc trong tương lai, thì họ sẽ tìm được công ty có chế độ đãi ngộ tốt, đối với công ty, việc nhận thức mối nguy cơ chuyển việc và tích cực bồi dưỡng năng lực nhân viên là cần thiết. (Chú thích: Nguy cơ nhân viên giỏi chuyển việc, do đó việc bồi dưỡng năng lực cho toàn bộ nhân viên là cần thiết, sẵn sàng đối ứng khi có người nghỉ việc).

近視眼の「K」-Chữ K thứ bốn: Tầm nhìn ngắn

ここはベトナム人の人材育成に留意するべき項目になります。これは歴史的な背景があるのですが、過去不幸な戦争の歴史があったベトナムにおいては、将来への夢を語り、あるべき姿に向かって計画性を持って着実に取り組んでいくということについて苦手な人が多いです。今の問題にどう対処するかということに力点が置く傾向があり、物事に対する見方が近視眼的なところがあります。計画があやふやでも何とか帳尻を合わせることには長けているのですが、それが品質や能力レベル向上のネックになっているとも考えられます。私が講師となる研修では、計画性の視点を磨くことに重点を置いています。
個人生活においても、「明日の一万円より今日の1000円」という感覚があり、中長期の投資や計画立案より、直近の現金商売には身を乗り出す傾向があります。政府においても、投資回収に時間のかかる製造業への関心が薄いですし、多くのベトナム人にとっては不動産や株などの投資に関心が高く、また賭け事には異様なほどのめり込む人が多いという印象があります。
Đây là điều nên lưu ý khi bồi dưỡng nhân sự người Việt Nam. Điều này có bối cảnh lịch sử của nó, những người Việt Nam có một lịch sử chiến tranh trong quá khứ có phần bất hạnh, nhiều người  họ ước mơ về tương lai, nhưng lại khó khăn cho việc  lập kế hoạch cho tương lai. Họ có tầm nhìn ngắn vì chỉ lo phải đối phó với vấn đề hiện tại ra sao.
Dù cho kế hoạch có không rõ ràng thì nó cần thiết để cân bằng thu chi, có thể suy nghĩ chất lượng cũng như năng lực tăng hay giản ra sao.Tôi là một giảng viên, tôi sẽ đặt trọng điểm vào việc làm rõ quan điểm(cách nghĩ) và kế hoạch rõ ràng ra sao.
Đối với sinh hoạt cá nhân có cảm giác rằng, làm sao để hôm nay kiếm được 1000 yên quan trọng hơn làm thế nào để ngày mai kiếm được 10.000 yên. Họ có khuynh hướng kinh doanh nhỏ lẻ buôn bán bằng tiền mặt hơn là một kế hoạch trung và dài hạn.
Ngay cả chính phủ cũng vậy, họ quan tâm mờ nhạt tới các công việc chế tạo sản xuất tốn thời gian, rất nhiều người Việt Nam quan tâm tới đầu tư cổ phiếu và lướt sóng bất động sản. Có một ấn tượng rằng có nhiều người bị lún vào cờ bạc.
(Chú ý sự kiện Intel ban đầu định đầu tư ở Hà Nội nhưng sau đó lại đầu tư ở miền Nam, nó cho thấy tầm nhìn rất ngắn của những người Hà Nội trong việc tạo dựng nên công ăn việc làm nhà xưởng, nhưng Hà Nội lại rất nhiệt tình trong cấp phép các dự án nhà đất chung cư).


カカア天下の「K」-Chữ K thứ năm: Quyền lực của người vợ là rất lớn. Nhất vợ nhì giời.

女性がしっかりしていて強いというのはベトナムでは自他ともに認める常識です。これも戦争の歴史的背景もあり、男手は戦争に取られ、家を守るのは女性の役割との意識が強かったからかもと思っています。しかし、家を守るというのは、家庭に入るという意味ではなく、稼ぎ頭も女性であるということです。また勉強好きなのも女性が圧倒的に多く、実際事務管理系の人材の9割は女性で占められています。それでは男は何をしているのかということになりますが、一般的にはあまり働かない人が多いです。それでも家を継ぐのは男性という伝統が生きている社会で、子供は何とか男がほしいという人が多いですね。
そういったしっかりした女性が家族も社会も支えているベトナムですが、ほとんどの家庭は恐妻家です。男はあまり働かずに女性が稼ぎ支えているだけに、女性は凄まじいほどの嫉妬心を持っています。よく聞く話ですが、ベトナム人女性は恋人や夫に対して心から尽くすのですが、その分束縛もきついようです。浮気をされようものなら大変なことになります。ベトナムでは凶悪犯罪事件はあまりありませんが、よく新聞に載るのが、男女間の揉め事による殺人事件とか、阿部定のような事件とかを多く目にします。

ベトナム人は一概にこうだということを言うつもりはありませんし、人によって違うのは確かです。ただ、国民性の違いについては理解をして対応しなくては、いつでも何でベトナム人はこうなんだというような、批判的な愚痴ばかりが出て、決して建設的な経営ができません。これはベトナムに限ったことだけでなく、企業が海外で事業を行おうとする際には、常に異文化適応ということをどれだけうまくコントロールできるかということにつながると思っています。
Ở Việt Nam, sự nhận thức thông thường về phụ nữ là họ mạnh mẽ. Tôi nghĩ điều  này có bối cảnh từ chiến tranh, những người đàn ông tham gia chiến trận, và người phụ nữ có vai trò bảo vệ gia đình hậu phương .
Tuy nhiên, việc bảo vệ gia đình không có nghĩa là ở nhà làm những công việc nội trợ, nó còn có nghĩa, người phụ nữ tham gia vào việc kiếm tiền cho gia đình. Hơn nữa, những người phụ nữ thích học hành cũng chiếm phần áp đảo, hệ thống quản lý nhân sự thực tế có tới 90% là nữ giới. (Chú thích: Văn hóa Nhật, thông thường người phụ nữ sẽ ở nhà, người chồng đi làm kiếm tiền).
Vậy thì nam giới làm gì? Và thông thường là có rất nhiều người chẳng làm gì mấy. Ngay cả như thế, trong một xã hội có truyền thống nam giới là người kiếm tiền nuôi gia đình thì ước mốn có con trai vẫn là phổ biến. Người phụ nữ đóng vai trò trong cả gia đình và xã hội, nên có rất nhiều gia đình ở tình trạng người chồng là những anh hùng râu quặp (sợ vợ). Chính là vì đàn ông chẳng làm gì mấy trong khi phụ nữ tham gia kiếm tiền. Người phụ nữ có lòng đố kỵ tới mức trở nên dữ dằn. (Chú thích: Ý nói tính ghen tuông).
Tôi đã nghe nhiều rằng người phụ nữ Việt Nam làm tất cả cho người họ yêu hay là chồng của họ, và chung thủy. Nếu như  cặp bồ lăng nhăng thì sẽ  là vô cùng tồi tệ. Ở Việt Nam không có mấy những vụ án tàn bạo dã man nhưng những việc đăng trên báo thường thấy là vụ giết người liên quan tới quan hệ nam nữ, những sự việc như 阿部定 là rất nhiều. (Nhân vật của Nhật phạm tội giết người). (Chú thích: Có lẽ muốn cảnh báo những người đàn ông Nhật khi có tình cảm với phụ nữ Việt Nam thì nên cẩn thận.)
Không phải nói rằng người Việt Nam là như thế, tất nhiên tính cách hành động của mỗi người là khác nhau. Nhưng mà, về sự khác nhau của dân tộc tính, lý giải mà không có đối ứng hợp lý, một lúc nào đó lại than vãn như là phê phán rằng tại sao người Việt Nam như thế, thì sẽ không thể kinh doanh và làm ăn ở đó được. Không chỉ là trong giới hạn về Việt Nam, mà trong việc làm ăn mở nhà máy xí nghiệp ở hải ngoại, thì tôi nghĩ việc suy nghĩ làm sao để điều khiển vận hành tốt , làm sao cho tương thích với sự dị biệt về văn hóa là cần thiết.

Dịch bởi JnF.
Nguồn: https://mbp-japan.com/osaka/leapbridge-vj/column/2728046/

Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn https://jpnfriend.net là vi phạm bản quyền

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thành viên đăng nhập
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Hỗ trợ trực tuyến
Bộ phận: Hỗ trợ tư vấn